Đề bài: Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học.

VĂN MẪU 1

Với lịch sử lâu đời, nền văn học nước ta đã chịu ảnh hưởng từ các nền văn học khác nhau. Từ đó dẫn đến nhiều thể loại văn học được du nhập vào Việt Nam: tản văn, văn xuôi, tự sự, trữ tình, kịch,... và được nhiều tác giả yêu thích sử dụng. Nhưng bên cạnh đó, các thể loại văn học truyền thống vẫn được các nhà thơ sử dụng rộng rãi, tiêu biểu là thơ lục bát.

Thể thơ lục bát là thể thơ dân gian, do nhân dân sáng tạo ra, gồm một câu sáu tiếng (lục) và một câu tám tiếng (bát), tạo thành một cặp lục bát. Thơ lục bát gồm nhiều câu tạo thành, không hạn định về số câu trong toàn bài. Thể thơ này đòi hỏi nghiêm ngặt về cách gieo vần. Quy luật gieo vần của thể thơ này được biểu hiện như sau: Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát và tiếng thứ tám của câu bát vần với tiếng thứ sáu của câu lục tiếp theo, rồi cứ thế lần lượt cho đến khi hết bài

Ví dụ:

Thuyền về có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ, khăng khăng đợi thuyền.

(Ca dao)

Trong ví dụ trên, tiếng "chăng" - tiếng thứ sáu của câu lục đã vần với tiếng "khăng" - tiếng thứ sáu của câu bát.

Về cách ngắt nhịp, thể thơ này có rất nhiều cách, tạo nên sự hài hòa, uyển chuyển trong từng câu thơ. Cách ngắt nhịp thường là nhịp chẵn: 2/2/2, 2/4 hoặc 4/4 hay có khi là nhịp lẻ như 3/3,...

Ví dụ:

Mai cốt cách/ tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ/ mười phân vẹn mười

(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Còn về luật bằng trắc, trong câu thơ luôn có sự đối xứng luôn phiên B - T - B. Cụ thể như sau: Tiếng thứ hai thanh bằng, tiếng thứ tư thanh trắc, tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám thanh bằng. Ngoài ra nếu có tiểu đối ở câu lục thì có thể thay đổi thanh.

Ví dụ:

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Ở ví dụ trên cho ta thấy B - T - B ở câu lục là "lòng - ả - nga" và ở câu bát, B - T - B - B là "Kiều - chị - là - Vân".

Vì là thể thơ hài hòa với nhịp đập của con tim, suy nghĩ, cách sinh hoạt của người Việt nên thơ lục bát được sử dụng nhiều để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của chính tác giả. Nhiều nhà thơ đã đi đầu trong phong trào thơ mới, đã biến tấu chúng trở thành những câu chuyện về tình yêu trai gái, tình yêu quê hương, đất nước, qua đó khắc họa được cuộc sống của nhân dân trước kia, lên án chế độ phong kiến tàn bạo,.... Tiêu biểu là các tác phẩm: Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu hay Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành kiệt tác, kho tàng văn học quý giá của Việt Nam và còn lan rộng sang các nước trên thế giới.

Mặc dù thời đại ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều hình thức thơ mới ra đời, nhưng giá trị của thơ lục bát vẫn mãi trường tồn mà không loại thơ nào có thể thay thế được. Thơ lục bát sẽ vẫn mãi tồn tại và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

VĂN MẪU 2

Trong những tác phẩm về thơ ca Việt Nam mà chúng ta đã được học, có thể thấy rằng trong thơ ca Việt Nam cũng có những đặc sắc riêng như cách nhấn nhá, cách dùng từ và đặc biệt nhất là thể thơ. Thể thơ của Việt Nam cũng có nhiều thể loại như thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú và đặc biệt là thể thơ tự do.  Những tác phẩm kinh điển của thể thơ tự do đã đưa văn hóa nghệ thuật thơ ca lên một tầm cao mới.

Thể thơ tự do vốn đã xuất hiện sớm ở các nước phương Tây, do ảnh hưởng của thực dân xâm lược nên thơ tự do đã bắt đầu xâm nhập dần vào văn hóa thơ ca nước ta. Với sự bùng nổ của chiến tranh Thế giới thứ II, mọi sự áp bức, kìm nén của các thi sĩ, nhà thơ đã dùng thể thơ không gây gò bó này để thể hiện sự tự do, phóng khoáng của bản thân. Tất cả những thứ ấy gộp lại tạo ra thơ ca, với một phong cách phá cách, loại bỏ sự gò bó, với vần điệu cũ.

Đối với thể thơ tự do, có thể thấy rằng thể thơ không gò bó về số chữ, số câu trong bài thơ. Số chữ, số câu không hạn chế sử dụng. Muốn gieo vần thơ ở đâu cũng được. Có thể thấy rằng đây là một trong những điểm đặc sắc của thể thơ tự do.

Trong những bài thơ thuộc thể loại thơ tự do thường gợi tả màu sắc ,cảm giác cho người đọc cảm thấy ấn tượng. Ý tưởng của thơ rất đa dạng, do không phải bị gò bó vào một khuôn khổ nhất định nên các tác giả có thể có nhiều ý tưởng khác nhau như về đời sống, tình yêu, con người.  Do không bị gò bó về ý tưởng hay ngôn ngữ nên những bài thơ của thể thơ tự do đều mang lại một nét khá trừu tượng. Thể thơ được chia làm ba loại chính : cổ điển, hiện đại và tập lục.

Với những nét đặc sắc trên có thể thấy rằng, thể thơ tự do là một nghệ thuật thơ ca vừa dễ viết lại vừa khó, tại sao lại vừa dễ, vừa khó? Thứ nhất, tại sao lại dễ, do đặc tính không bị gò bó với một khuôn mẫu tiêu chuẩn nên những người nghiệp dư, tài ngang đều có thể viết thơ tự do một cách dễ dàng. Chỉ cần có ý tưởng trong đầu, lên thơ, tìm chữ, mạnh tay phóng bút là có thể viết được một bài thơ tự do. Vậy tại sao lại khó viết ? Có thể nói thơ tự do là thành tựu của thi ca hiện đại, là tất cả những gì cổ điển và cổ điển nhất, từ đó đưa ra những cách tân , vượt ra ngoài mọi thủ tục, mọi trình tự, mọi lề luật. Do đó cho rằng thơ tự do là đỉnh cao thâm nghiêm nhất, vòi vọc nhất mà người viết muốn viết thành công cũng không gặp khó khăn gì. Nhưng không có một cái gì có thể thành công khi nó quá dễ dàng cả. Vì vậy có thể cho rằng thơ tự do mang tiếng là tự do, không phải gò bó trong khuôn mẫu nào cả lại được coi là thể thơ khó nhất, dễ viết nhất nhưng để viết cho hay thì lại trở  thành khó nhất.

Để viết một bài thơ hay, đòi hỏi bài thơ phải thật tinh gọn không chứa những từ ngữ dư thừa như “thì”, “mà”… Không được trùng lặp cả từ lẫn ý nghĩa, không được lạc lõng trong một thể thống nhất.  Để bài thơ không quá nhàm chán, không thể thiếu được hình ảnh, âm thanh, ẩn dụ ,… để biểu hiện cho một khái niệm trừu tượng, siêu thực, vô hình.  Tiết tấu nhanh hay chậm của bài thơ tạo nên nét riêng biệt của từng bài.

Từ những điều được nói ở trên có thể thấy rằng, thể thơ tự do là một thể thơ đặc sắc về những nét nghệ thuật độc đáo, những từ ngữ, hình thức không bị trói buộc. Là một thể loại thơ đơn giản nhưng lại không dễ dàng. Những nét đặc sắc của thể thơ tự do đã đưa phong trào lên một tầm cao mới, với sự ra đời của các tác phẩm tiêu biểu như “Nhớ rừng”; “Ông đồ”;….. Thơ tự do như một sự giải phóng tâm hồn trước những luật lệ, vần điệu để khiến cho nhà thơ, nhà văn được nói lên tiếng nói của chính mình.

VĂN MẪU 3

“Ầu ơ, Bồng bống bông bông

Lớn lên con phải cố công học người

Học là học đạo học đời,

Con đừng lêu lổng kẻ cười, người chê.”

Giai điệu êm ả, thân thương trong từng lời mẹ ru à ơi ví dầu đã ăn sâu vào tận gốc rễ, vào tận linh hồn của mỗi người con đất Việt từ thuở lọt lòng. Ca dao dân ca được lưu truyền từ ngàn đời qua nhiều hình thức khác nhau qua nhiều thời đại, đặc tả đời sống nội tâm của con người và trở thành một đặc trưng riêng của văn học Việt Nam nói riêng và của truyền thống văn hóa nói chung.

 Qua nhiều thế hệ, ca dao được biết đến ở hiện đại như là thể loại thơ trữ tình. Nó bao quát từ phong tục tập quán đến đời sống thường nhật của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và của cả cộng đồng. Song song với đó, nó thể hiện đạo đức, phẩm giá và kinh nghiệm sống qua những câu từ giản dị, đơn giản. Ca dao phổ biến ở mọi lứa tuổi, mọi lĩnh vực nhưng đồng thời ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì có những đề tài khác nhau. Chẳng hạn như giáo dục con trẻ thì có những bài ca dao hát ru, tình yêu trai gái thì có những bài đối đáp kết duyên:

“Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”

Hay trong đời sống hôn nhân vợ chồng thì có những bài ca dao đối nhân xử thế, yêu thương giữa người với người:

“Anh về để áo lại đây

Đêm khuya em đắp, gió tây lạnh lùng

Lạnh lùng, em lấy mùng đắp đỡ,

Anh đem áo về, kẻo vợ anh ghen”

Hay chỉ đơn giản là thủy chung giữa đôi bên:

“Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

Kho tàng ca dao dân ca được chia làm nhiều mảng lớn để phản ánh các đối tượng khác nhau, giáo dục theo từng thế hệ con cháu. Quen thuộc nhất vẫn là ca dao yêu thương, tình nghĩa giữa cha mẹ, con cái, quê hương, đất nước.

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Hay việc ca ngợi quê hương đất nước:

“Củ Chi mát nước Kinh Đông,

Rau, dưa, bầu, bí xanh đồng Hóc Môn.

Duyên Hải lắm cá nhiều tôm,

Thủ Đức nhà máy khói tuôn ngang trời.

Tàu thuyền tấp nập ra khơi,

Bạch Đằng lấp lánh sao trời, trời sao.”

 Bên cạnh đó còn có những bài ca dao viết về những cuộc đấu tranh, bày tỏ lòng biết ơn với thế hệ cha anh đã hy sinh anh dũng cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước:

“Ruộng ta ta cấy, ta cày,

Không nhường một tấc cho bầy Nhật, Tây.

Chúng mày lảng vảng tới đây,

Rủ nhau gậy cuốc, đuổi ngay khỏi làng.”

Hay chỉ đơn giản về tinh thần yêu nước, giữ nước qua nhiều thế hệ:

“Xa xa Côn Đảo nhà tù,

Biển sâu mấy khúc, lòng thù bấy nhiêu.”

Và thân thuộc nhất vẫn là những bài ca dao đi vào trong sách giáo khoa, trong từng lời ru, trong từng than thân, thở dài của những người phụ nữ áo vải, bị chế độ phong kiến áp bức, chà đạp:

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

Bên cạnh những lời than thân, thương xót cho những mảnh đời bất hạnh của những người phụ nữ tại tầng lớp thấp kém trong xã hội thì nó cũng đồng thời châm biếm một chế độ thối nát, một chế độ mà những kẻ lừa đảo xuất hiện khắp nơi, những con người mê tín dị đoan:

“Số cô chẳng giàu thì nghèo,

Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà.

Số cô có mẹ có cha,

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.

Số cô có vợ có chồng,

Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai”

 Những lời ca dao hài hước, trào phúng ấy nhằm để giải trí, để cảnh tỉnh những người đã và đang bị lây nhiễm những thói hư tật xấu trong xã hội một cách nhẹ nhàng nhất.

Năm tháng lững lờ trôi qua, ca dao đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Nó không chỉ là bản nhạc của tình yêu thương giữa người với người mà còn là những bài học nhân sinh, những kinh nghiệm xương máu được đúc kết từ thực tiễn trong nhịp sống thường nhật của nhân dân. Ca dao không đơn thuần là một thể loại văn học mà còn là động lực để văn học phát triển, trở thành tư liệu quý báu cho các nhà văn, nhà soạn nhạc khi cầm bút, sáng tạo nên đứa con tinh thần của chính mình.