Lý thuyết
Lớp 12
Môn Văn
Soạn bài Viết bài tập làm văn số 1:Nghị luận xã hội - lớp 12

Soạn bài Viết bài tập làm văn số 1:Nghị luận xã hội - lớp 12

BÀI VIẾT SỐ 1: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

I. DÀN Ý CHUNG

Cách làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí

1. Tìm hiểu đề

- Xác định kiểu bài (NLXH/NLVH, NL về một tư tưởng đạo lí/hiện tượng đời

sống/vấn đề xh đặt ra trong một tác phẩm văn học,…)

- Xác định vấn đề nghị luận

2. Lập dàn ý

a. Mở bài:

- Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận

- Nêu vấn đề cần nghị luận

b. Thân bài:

* Bước 1: Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

* Bước 2: Phân tích và chứng minh

- Nêu biểu hiện của tư tưởng, đạo lí.

- Khẳng định quan điểm của người viết: Vấn đề là đúng hay sai? Tích cực hay tiêu cực?

- Bình luận: Trả lời cho câu hỏi: Tại sao đúng? Tại sao sai?

+ Dùng hệ thống lí lẽ để làm rõ vấn đề đó là đúng hay sai.

+ Lấy dẫn chứng chứng minh.

* Bước 3: Bàn bạc, mở rộng

- Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, đóng góp – hạn chế

của vấn đề.

- Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn luận.

- Mở rộng vấn đề (Liên hệ vấn đề đó trong quá khứ, hiện tại, tương lai (nếu cần).

* Bước 4: Rút bài học nhận thức và hành động

- Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm,…

- Bài học hành động - Đề xuất phương châm đúng đắn, phương hướng hành động cụ  thể

c. Kết bài:

- Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài.

II. MỘT SỐ ĐỀ CỤ THẾ

Đề số 1. (Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 1 - Trang 35) Tình thương là hạnh phúc của con người.

1. Mở bài

- Dẫn dắt

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: "Tình thương là hạnh phúc của con người".

2. Thân bài

a. Giải thích

- Tình thương là một trong những tình cảm tốt đẹp của con người và được thể hiện qua việc biết quan tâm, sẻ chia, giúp đỡ người khác.

- “Hạnh phúc" là trạng thái tâm lí của con người khi đạt được một mục đích nào đó, mang tính tích cực, đem lại cho con người sự hưng phấn, vui sướng.

→ “Tình thương là hạnh phúc của con người”: Câu nói đã khẳng định sức mạnh của tình yêu thương: Tình thương chính là cội nguồn đem đến hạnh phúc cho con người.

b. Phân tích, bình luận

- Tình yêu thương sẽ giúp con người sống nhân hậu, đoàn kết, biết cảm thông và sẻ chia với mọi người, biết giúp đỡ người gặp hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống.

- Tình yêu thương đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người cho đi và cả người được nhận.

- Tình yêu thương giúp con người tránh xa lối sống vô cảm, thờ ơ, vị kỉ; giúp “người gần người hơn”, xã hội tốt đẹp hơn.

c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề

- Tình yêu thương đem lại hạnh phúc cho con người phải là tình cảm chân thành, trong sáng, không vụ lợi; không phải là thứ tình thương ích kỉ, toan tính, mưu đồ.

- Lên án, phê phán những con người có lối sống vô tâm, thờ ơ trong xã hội.

d. Bài học nhận thức và hành động

- Mở rộng tấm lòng yêu thương mọi người.

- Giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn...

3. Kết bài

Khẳng định lại tính đúng đắn của vấn đề đã bàn luận.

Đề số 2. (Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 1 - Trang 35) “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. Ý kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân.

1. Mở bài:

- Dẫn dắt

- Trích dẫn câu nói và nêu vấn đề nghị luận

2. Thân bài:

a. Giải thích vấn đề nghị luận:

- “Đức hạnh” là từ dùng để chỉ phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm hồn tốt đẹp của con người.

- “Hành động” là việc làm của con người, hướng đến để đạt được một mục đích nào đó.

→ Câu nói của M.Xi-xê-rông nêu ra mối quan hệ biện chứng giữa “đức hạnh” và “hành động”, giữa cái bên trong và cái bên ngoài: Những phẩm chất, trí tuệ, tâm hồn tốt đẹp của con người sẽ được thể hiện và hình thành qua hành động, việc làm đúng đắn, hướng tới mục đích cao cả, tốt đẹp. Và ngược lại, những hành động đẹp được xuất phát từ một trái tim nhân hậu, một tâm hồn trong sáng.

b. Phân tích, bình luận vấn đề

- Phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm hồn là thứ vô hình, không thể nhìn thấy được. Nhưng những điều đó được thể hiện và hình thành trong việc làm, hành động. Quan sát hành động việc làm của một người, ta có thể đánh giá đức hạnh của họ.

- Suy nghĩ, tình cảm của mỗi người quyết định, điều khiển lời nói, hành động, thái độ của mỗi người. Những hành động đẹp phải được xuất phát từ một tâm hồn đẹp.

c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề

- “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” dù là trong những hành động nhỏ nhất, đơn giản nhất.

- Khi đánh giá một con người, ta không được đánh giá một cách giản đơn, một chiều, chỉ qua một vài hành động, lời nói mà phải xem xét kĩ lưỡng, trong nhiều hành động, việc làm, nhiều hoàn cảnh.

d. Suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân

- Phải có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa “đức hạnh” và “hành động”. Phải tu dưỡng đạo đức và cẩn trọng trong hành động.

- Cố gắng rèn luyện, học tập, bồi dưỡng tri thức, tâm hồn để có nhận thức, thái độ và hành động đúng đắn.

- Phê phán, lên án những kẻ sống giả tạo, ích kỉ, ba hoa,...

3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận

Đề số 3. (Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 1 - Trang 35) Hãy phát biểu ý kiến của anh (chị) về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

1. Mở bài:

- Dẫn dắt

- Trích dẫn câu nói và nêu vấn đề nghị luận

2. Thân bài:

a. Giải thích vấn đề nghị luận:

- “Học để biết”: Học để có hiểu biết về tri thức, những thành tựu của dân tộc và nhân loại.

- “Học để làm”: Học để có thể tổ chức, tiến hành lao động, để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.

- “Học để chung sống”: Học để có thể hoà nhập, giao tiếp ứng xử với mọi người.

- “Học để tự khẳng định mình”: Học để chứng minh, khẳng định giá trị của chính bản thân mình.

→ Câu nói chia thành 4 vế, mỗi vế nói đến một mục đích của việc “học”, mục đích ở vế trước làm tiền đề cho mục đích vế sau: Phải “biết” thì mới có khả năng “làm”; Phải “biết”, phải “làm” thì mới có thể “chung sống” với mọi người; Và khi đã “biết”, đã “làm” và khi đã “chung sống” được với mọi người, con người mới có thể “khẳng định” được giá trị của bản thân trong cộng đồng xã hội. Con đường để đạt được những mục đích đó cũng chính là “học".

b. Phân tích, bình luận vấn đề

- “Học để biết”:

+ Con người sống không thể không có tri thức. Nhờ việc học, con người tiếp thu những tinh hoa tri thức của nhân loại. Từ đó, mỗi người có thêm những kinh nghiệm, vốn sống để hiểu thêm về tự nhiên, về xã hội và về chính bản thân mình.

+ Việc học cũng giúp mỗi người nhận thức rõ được mọi việc để có thái độ ứng xử phù hợp với những tình huống, hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống.

- “Học để làm”:

+ Nếu chỉ chú tâm vào việc tích luỹ tri thức mà không đem nó ra thực hành, luyện tập thì tri thức ấy cũng mai một và hoài phí. Con người cần học cách đưa tri thức vào thực tiễn cuộc sống.

+ Lao động góp phần tạo ra của cải vật chất và tinh thần nuôi dưỡng bản thân và xã hội.

- “Học để chung sống”:

+ Con người ta không sống một mình mà sống trong một cộng đồng. Để tồn tại trong xã hội, con người phải biết hoà nhập với cộng đồng, biết ứng xử cho phù hợp, khéo léo.

+ Trong cộng đồng, con người có cơ hội để phát huy giá trị của bản thân.

+ Khi chung sống với mọi người, con người cũng được tôi luyện, có thêm cho mình kinh nghiệm, tri thức và đặc biệt là bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm.

- “Học để tự khẳng định mình”:

+ Thông qua việc học, con người có thể tạo cho mình một vị trí trong xã hội, khẳng định sự tồn tại và trí tuệ, tài năng, phẩm chất,... của bản thân mình.

c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề

- Trong thời đại 4.0, toàn cầu hoá, mục đích học tập do UNESCO đề xướng hướng tới đào tạo những công dân toàn cầu. Đó là những người năng động, sáng tạo, có năng lực và phẩm chất tốt.

- Mục đích học tập do UNESCO đề xướng giúp con người định hướng mục đích của việc học tập, coi trọng việc học, nỗ lực hết mình.

- Phê phán, lên án những người lười nhác, bỏ bê, coi thường việc học và học tập không có mục đích.

d. Bài học nhận thức và hành động

Mỗi người phải xác định đúng thái độ và động cơ học tập.

- Học phải đi đôi với hành, học kiến thức đi đôi với việc tu dưỡng đạo đức.

- Cố gắng học tập, rèn luyện để có thể hội nhập với thế giới.

3. Kết bài:

Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Nội dung đề xướng về mục đích học tập của UNESCO thật sự đúng đắn, đầy đủ, toàn diện.

 

Môn Văn lớp 12